Giới thiệu

Đăng ngày 18 - 01 - 2012
100%

 

 

          I. Giới thiệu chung

          1. Lịch sử hình thành  

Vào những thế kỷ đầu của công nguyên, Kim Động thuộc quận Giao Chỉ, thời nhà Đinh có tên là Đằng Châu, thời nhà Trần có tên là Kim Động cho đến nay.

Ngày 24 tháng 2 năm 1979, theo Quyết định số 70/CP của Hội đồng Chính phủ, huyện Kim Độngsáp nhập với huyện Ân Thi thành huyện Kim Thi, thuộc tỉnh Hải Hưng. Sau 17 năm hợp nhất, đến tháng 4 năm 1996 thực hiện Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 27/01/1996 của Thủ tướng Chính phủ, huyện Kim Thi tách ra thành hai huyện Kim Động và Ân Thi như trước.

Kim Động nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, được phù sa sông Hồng bồi đắp. Trải qua hàng vạn năm, bãi bồi lấn dần ra biển, những người dân Việt cổ men theo những dòng sông, săn bắt thủy sản, phát triển nghề trồng lúa nước để sinh sống. Cùng với sự phát triển kinh tế nông nghiệp, những làng mạc định cư đầu tiên của người Kim Động được dựng lên ven sông Hồng. Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và trong lao động để tồn tại, những người dân với sức lao động cần cù, chịu khó đã đoàn kết, giúp đỡ nhau khai phá những bãi đồng lầy, dựng làng, lập ấp, gieo lúa, trồng màu để sinh sống. Nhiều làng mạc trong huyện hiện nay vẫn còn chữ Xá (nghĩa là cộng đồng cư dân có chung nguồn gốc): Động Xá, Vĩnh Xá, Vũ Xá, Mai Xá,… Đến nay, nhiều nơi trong huyện vẫn còn tên cổ của làng để ghi công lao những người đầu tiên có công khai lập nên, hoặc ghi nhớ những sự tích của làng, như: làng Nở (Duyên Yên), làng Tè (Tạ Xá), làng Phận (Dưỡng Phú)…

Nhân dân Kim Động mang trong mình dòng máu Lạc Rồng, có truyền thống cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh với thiên nhiên, không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào, đã cùng đồng bào cả nước đánh đuổi hết thù trong giặc ngoài; ngày nay nhân dân Kim Động đang hăng say phấn đấu xây dựng một Kim Động giàu mạnh, phồn thịnh, phấn đấu trở thành huyện tiêu biểu của tỉnh về mọi mặt...

          2. Vị trí địa lý

          Huyện Kim Động nằm ở phía tây nam của tỉnh Hưng Yên. Phía bắc giáp huyện Khoái Châu, phía nam giáp thành phố Hưng Yên; phía đông giáp huyện Ân Thi và Tiên Lữ ; phía tây giáp sông Hồng, bên kia là huyện Phú Xuyên (Hà Nội) và Duy Tiên (Hà Nam).

Có quốc lộ 39A và sông Hồng chạy qua, liền kề với trung tâm tỉnh lỵ Hưng Yên, nối với quốc lộ 5 khoảng 20km. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi, dễ dàng trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học và liên kết kinh tế trên các lĩnh vực với các tỉnh liền kề bằng những lợi thế riêng của huyện, đặc biệt là với  thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn: Hải Phòng, Hải Dương…

Kim Động có 17 đơn vị hành chính, gồm 16 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 102,684 km2.

   1. Thị trấn Lương Bằng diện tích hành chính là 7,43 km2
   2. Xã Nghĩa Dân diện tích hành chính là 4,46 km2 

   3. Xã Toàn Thắng diện tích hành chính là 7,26 km2
   4. Xã Vĩnh Xá diện tích hành chính là 5,84 km2
   5. Xã Phạm Ngũ Lão diện tích hành chính là  6,74 km2
   6. Xã Thọ Vinh diện tích hành chính là 3,50 km2
   7. Xã Đồng Thanh diện tích hành chính là 5,64 km2
   8. Xã Song Mai diện tích hành chính là 7,37 km2
   9. Xã Chính Nghĩa diện tích hành chính là 6,43 km2
  10. Xã Nhân La diện tích hành chính là 3,15 km2
  11. Xã Phú Thịnh diện tích hành chính là 4,85 km2
  12. Xã Mai Động diện tích hành chính là 6,31 km2
  13. Xã Đức Hợp diện tích hành chính là 7,48 km2
  14. Xã Hùng An diện tích hành chính là 7,38 km2
  15. Xã Ngọc Thanh diện tích hành chính là  6,52 km2
  16. Xã Vũ Xá diện tích hành chính là 5,27 km2
  17. Xã Hiệp Cường diện tích hành chính là 7,16 km2

3. Khí hậu, thủy văn

Huyện Kim Động mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; thời kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20c. Mùa hè nhiệt độ trung bình 30 – 320c; cao nhất vào tháng 6 và 7 nhiệt độ có khi lên tới 380c. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17-220c; thấp nhất vào tháng 1 và 2 nhiệt độ 8-100c. Tổng tích ôn trung bình hàng năm là 85030c.

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%, cao nhất 90,6%, thấp nhất 60%. Tháng 3 là tháng ẩm nhất và tháng 11 là tháng khô nhất.

Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm. Lượng mưa trung bình tháng trong năm là 175mm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9. Mưa thường xảy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho việc tưới và bồi đắp một phần phù sa cho đồng ruộng của huyện.

Với khí hậu – thủy văn như trên là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú. Song phải có những biện pháp phòng chống hạn úng, đồng thời phải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.

4. Dân số, lao động

Dân số huyện Kim Động có 121.793 người. Mật độ dân số là 1.061 người/km2 (số liệu tổng điều tra dân số năm 2009). Dân số phân bổ không đều, các xã vùng ngoài đê mật độ thấp nhất và tăng dần theo hướng Tây đến Tây nam và Nam, cao nhất là thị trấn.

Tỷ suất sinh hàng năm đang giảm dần, theo số liệu thống kê năm 2011 là 1,41%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm dưới 1% (Năm 2011 là 0,85%).
          Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 62% dân số. Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên là 93%. Cơ cấu lao động trong nông nghiệp - CNXD - TMDV là: 72,5% - 10,6% - 16,9%. Lao động nông nghiệp có tỷ trọng cao nhưng đang giảm dần. Lực lượng lao động là công nhân kỹ thuật và có trình độ từ trung cấp trở lên còn ít, chỉ chiếm 7%.
          Nguồn nhân lực là thế mạnh nổi bật của huyện, tạo ra thị trường nội huyện to lớn về mọi mặt. Song đồng thời cũng là áp lực lớn trong việc giải quyết việc làm.

II. KINH TẾ - XÃ HỘI

1. Kết quả phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2005 - 2010

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 12%. Giá trị sản xuất các ngành: nông nghiệp tăng 5%; công nghiệp, xây dựng tăng 19%; các ngành dịch vụ tăng 14,5%.

Hàng năm có trên 90% chính quyền xã, thị trấn đạt TSVM; trên 80% tổ chức cơ sở Đảng đạt TSVM; trên 90% đoàn thể vững mạnh.

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp – công nghiệp, xây dựng – dịch vụ là 34% - 31% - 35%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 15,5 triệu đồng. Bình quân hàng năm thu ngân sách đạt 29,4 tỷ đồng.

Tỷ lệ phát triển dân số 0,83%. Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 6%. Tạo việc làm mới cho 15.267 lao động; 85% làng văn hóa; 93% cơ quan, đơn vị văn hóa; 92 % gia đình văn hóa; 26% trường học đạt chuẩn quốc gia; 100% trường học trung tâm xã, thị trấn xây dựng kiên cố cao tầng; 100% xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế.

Nông nghiệp tiếp tục phát triển, tỷ lệ lúa chất lượng cao đạt 53% diện tích; cây vụ đông trên đất hai lúa đạt 37,7% diện tích. Chuyển đổi được 1.091,5ha diện tích lúa kém hiệu quả. Đã có 113 trang trại đạt tiêu chí. Ngành chăn nuôi, thủy sản chiếm 41% tỷ trọng ngành nông nghiệp.

Tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn phát triển đa dạng. Toàn huyện có 03 làng nghề. Tổng số dự án sản xuất công nghiệp trên địa bàn là 28 dự án. Trải nhựa 100% tuyến đường giao thông do huyện quản lý; cứng hóa 70% đường xã, thôn; nâng cấp đường 208B và các tuyến đường đi Ân Thi, Khoái Châu; cứng hóa 19,2km đường ra đồng; xây dựng mới và cải tạo 10 trạm bơm các loại. Xây dựng mới trụ sở làm việc của 11 xã, thị trấn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng bình quân 20,5%/năm, dịch vụ vận tải bình quân tăng 18%/năm. Ngành điện lắp mới được 53 trạm biến áp, tăng thêm 35km đường dây tải điện, đã có 8 xã, thị trấn bàn giao hệ thống điện hạ thế cho ngành điện quản lý. Hệ thống thông tin phát triển mạnh với 45 trạm thu phát sóng, mật độ điện thoại cố định đạt 15 máy/100 dân.

Về văn hóa – xã hội: Ngành giáo dục luôn ở nhóm dẫn đầu của tỉnh. Thành lập mới 2 trường trung học phổ thông; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào lớp 10 ở các loại hình trên 80%; tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng hàng năm đạt 37%. Hệ thống cơ sở vật chất y tế từ huyện đến xã được đầu tư nâng cấp; 100% xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Sự nghiệp văn hóa thông tin thể thao và truyền thanh được đẩy mạnh, tỷ lệ dân số thường xuyên tập luyện thể thao đạt 24%. Quan tâm chăm lo cho các gia đình chính sách, thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo. Quyên góp các loại quỹ nhân đạo, từ thiện được 2,1 tỷ đồng, việc sử dụng các loại quỹ đúng quy định, hiệu quả. Đến năm 2010 cơ cấu lao động nông nghiệp – công nghiệp, xây dựng – thương mại, dịch vụ là 72,57% - 12,26% - 15,17%.

Tình hình an ninh quốc phòng cơ bản đảm bảo, không có điểm nóng, khiếu kiện phức tạp, kéo dài…

2. Kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2011

Năm 2011 kinh tế - xã hội của huyện tiếp tục phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11,55% (KH: 11,5%). Sản xuất nông nghiệp có nhiều thuận lợi, giá trị SXNN tăng 5,5% (KH: 4,5%), năng suất lúa bình quân cả năm đạt 64 tạ/ha. Việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật, đưa các giống cây con có giá trị kinh tế cao vào sản xuất ngày càng rộng rãi. Tích cực triển khai Đề án xây dựng nông thôn mới. Sản xuất công nghiệp, xây dựng – dịch vụ thương mại tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất CN-XD  tăng 15,79% (KH: 15%); giá trị sản xuất TMDV tăng 14,64% (KH: 12,5%). Cơ cấu kinh tế NN-CNXD-DVTM là 35,5% - 31,18% - 33,32% (KH: 33,5% - 31% - 35,5%). Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 11 của Chính phủ. Khai thác triệt để các nguồn thu. Tổng thu ngân sách huyện năm 2011 đạt 114 tỷ 778 triệu đồng, tăng 23,4% so với năm 2010; đạt 196,2% KH. Chi ngân sách đảm bảo kế hoạch và các nhiệm vụ phát sinh. Tổng chi ngân sách địa phương là 282 tỷ 704 triệu đồng, đạt 171,8% KH. Sự nghiệp văn hoá thông tin, giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác có nhiều tiến bộ. Năm học 2010-2011 ngành Giáo dục và Đào tạo đứng thứ 2 toàn tỉnh về phong trào thi đua toàn diện. Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao. Tỷ lệ giáo viên giỏi, học sinh giỏi các cấp; học sinh thi đỗ các trường đại học, cao đẳng cao hơn so với năm trước. Cơ sở vật chất y tế được tăng cường. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 0,85% . Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao. Thu nhập bình quân đầu người đạt 23 triệu đồng/năm (KH: 17,5 triệu đồng/năm). Tỷ lệ làng văn hóa là 88% (KH: 86%); Tỷ lệ gia đình văn hóa là 92% (KH: 92,5%). Tỷ lệ hộ nghèo còn 11,51%. Chế độ, chính sách đối với người có công và các đối tượng xã hội được đảm bảo. Đã giải quyết việc làm mới cho 3.750 lao động (KH: 3.300 lao động). Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh; quốc phòng, an ninh được giữ vững, đảm bảo an toàn cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm được quán triệt sâu rộng và chỉ đạo quyết liệt.

3. Định hướng phát triển

2.1. Mục tiêu chung: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu lực điều hành của chính quyền; sự đồng thuận trong hệ thống chính trị; phát huy lợi thế và huy động mọi nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh nhằm phát triển toàn diện và bền vững về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, tạo bước chuyển biến tích cực trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn, phấn đấu xây dựng Kim Động trở thành huyện vững mạnh của tỉnh.

2.2. Chỉ tiêu chủ yếu trong giai đoạn 2010 – 2015:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 12,5%;

- Giá trị sản xuất các ngành tăng bình quân hàng năm:

Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng trên 5%;

Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng trên 18%;

Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng trên 13%;

- Hàng năm chính quyền huyện đạt TSVM; trên 85% chính quyền xã, thị trấn đạt TSVM;

- Hàng năm có trên 85% tổ chức cơ sở Đảng đạt TSVM, trên 90% đoàn thể vững mạnh;

* Đến năm 2015:

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp – công nghiệp, xây dựng – dịch vụ là 28%-35%-37%;

- Thu nhập bình quân đầu người đạt 40 triệu đồng/ năm;

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn trong 5 năm đạt 300 tỷ đồng;

- 90% dân số được dùng nước sạch và hợp vệ sinh; 100% các xã, thị trấn xây dựng bãi rác thải và 100% thôn, xóm có tổ vệ sinh môi trường;

- Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 2% (theo chuẩn năm 2005); tạo việc làm mới cho trên 18.000 lao động, trong đó có trên 70% lao động qua đào tạo;

- Trên 25% xã, thị trấn đạt tiêu chí nông thôn mới;

- Tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 95%; tỷ lệ làng văn hóa đạt 90%; 100% cơ quan, đơn vị văn hóa;

- 50% trường học đạt chuẩn quốc gia;

- Giữ vững 100% xã, thị trấn đạt chuẩn về y tế; 100% xã, thị trấn có bác sỹ; giữ tỷ lệ phát triển dân số ở mức dưới 1%.

III. TIỀM NĂNG VÀ THẾ MẠNH

- Địa hình bằng phẳng, độ dốc thấp, khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai màu mỡ là điều kiện thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp phong phú, đa dạng về sản phẩm, khả năng thâm canh tăng vụ cao. Điều này cũng góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến nông sản phát triển mạnh và bền vững.

- Trên địa bàn huyện, nhiều nơi vẫn còn giữ được những ngành nghề truyền thống (mây tre đan, cói, làm rượu,…), mặc dù còn nhỏ lẻ, manh mún, nhưng đây là điều kiện thuận lợi để đầu tư phát triển thành các làng nghề truyền thống có khả năng cạnh tranh cả trong nước và quốc tế.

- Những tài nguyên khoáng sản đã và mới được phát hiện (cát, than bùn…) là cơ sở để phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản.

- Huyện có tiềm năng du lịch sinh thái, 2 xã Phú Cường, Hùng Cường và thôn Vân Nghệ xã Mai Động là những bãi nổi trên sông Hồng  đất đai màu mỡ, cây cối trù phú có tiềm năng du lịch sinh thái nhưng chưa được khai thác.

- Dân cư tập trung, lực lượng lao động trẻ, dồi dào, trình độ đang ngày càng được nâng lên tạo tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế, đa dạng hoá các loại hình kinh tế trên địa bàn huyện.

Tin mới nhất

°
277 người đang online